Thứ Năm, 5 tháng 2, 2015

Ung thư tuyến nước bọt thường ở độ tuổi nào

U tuyến nước bọt chiếm 3 - 6% các trường hợp ung thư vùng đâu cổ ở người lớn, có tần suất mắc bệnh từ 1-3 người/100.000 người/năm. Độ tuổi trung bình của bệnh nhân bị ung thư tuyến nước bọt là 55 đến 65 tuổi, còn u lành tính thường xuất hiện sớm hơn 10 năm, ở độ tuổi trung bình 45 tuổi.
Chuẩn đoán ung thư tuyến nước bọt:
Sinh thiết bằng kim hút nhỏ là một thủ thuật đơn giản có thể phân biệt tổn thương ung thư hay không ung thư; và nếu chẩn đoán là ung thư thì có thể tư vấn cho bệnh nhân và chuẩn bị cho bác sĩ ngoại khoa tiến hành phẫu thuật triệt để hơn, tức có thể phải cắt dây thần kinh mặt hoặc vét hạch cổ.
Độ chính xác của sinh thiết bảng kim hút phụ thuộc vào kinh nghiệm của người làm thủ thuật và kĩ năng phân tích kết quả của bác sĩ tế bào bệnh học. Với những chuyên gia có kinh nghiệm, độ nhạy chung để phát hiện tế bào ung thư là 87- 94% và độ đặc hiệu là 75-98%. Nếu kết quả sinh thiết bầng kim hút của tuyến nước bọt nghi ngờ là âm tính thì cần tiến hành sinh thiết triệt để.

Nghiên cứu hình ảnh




Chụp cẳt lớp vi tính và chụp cộng hưởng từ là những công cụ tuyệt vời để đánhgiá u tuyến nước bọt, cung cấp thông tin chẩn đoán quan trọng về kích thước chung, sự thâm nhiễm vào các mô lân cận và sự xâm lấn vào mạch hoặc xung quanh thần kinh. Nhu mô tuyến mang tai chứatương đối nhiều mỡ, do vậy chúng ta có thể dê dàng làm hiện hình tuyến bâng chụp cát lớp hoặc chụp cộng hưởng từ có tiêm thuốc cản quang. Chụp cắt lớp là phương pháp tốt nhất để phát hiện ra huỷ hoại xương thái dương hoặc xương hàm dưới, còn chụp cộng hưởng từ cho phép đánh giá chi tiết hơn sự thâm nhiẻm vào mô mềm, sự xâm lấn vào vùng xung quanh thần kinh và tổn thương lan vào nội sọ. Sự xâm lấn vào vùng xung quanh dây thần kinh là yếu tố báo trước tiên lượng xấu và tỷ lệ tái phát tại chỗ cao hơn.
Hình ảnh khối u tuyến dưới hàm hoặc tuyến mang tai di động, nông trên phim X quang không làm thay đổi phương thức phẫu thuật chung. Tuy nhiên, cần xem xét các chi định điều trị ung thư tuyến nước bọt đặc biệt trong nhiều trường hợp, như:
- U ở thuỳ sâu tuyến mang tai hoặc u đã lan vào vùng quanh hầu họng
- U tái phát
- Xâm lấn trực tiếp vào dây thần kinh mặt, tổn thương da hoặc lan vào xương
- Tốn thương rộng tại chỗ
- Có hạch cổ bệnh Phân giai đoạn
Hệ thống phân giai đoạn TNM được sử dụng để phân giai đoạn ung thư tuyến mang tai, tuyến dưới hàm và tuyến dưới lưỡi, u các tuyến nước bọt nhỏ được phân loại và phân giai đoạn theo cách khác, theo vị trí giải phẫu (ví dụ, môi). Hai biến số lâm sàng được sử dụng để phân loại khối u (T- Tumor): kích thước và mức lan rộng tại chỗ. Tình trạng hạch (N-Node) và di căn xa (M-Megastar) được phân giai đoạn tương tư như các loại ung thư vùng đầu cổ khác. Tất cả các nhóm được tiếp tục chia nhỏ, tuỳ theo việc đã có lan rộng tại chỗ hay chưa, đánh giá qua tình trạng xâm lấn đại thể vào da, mô mềm, xương hoặc thần kinh.

Nguồn tham khảo: http://benhvienungbuouhungviet.vn/tim-hieu-benh-ung-thu/ung-thu-tuyen-nuoc-bot/chuan-doan-ung-thu-tuyen-nuoc-bot.aspx

Điều trị ung thư máu bằng cách nào cho có hiệu quả

Việc các đinh được bệnh cần phải được chẩn đoán ung thư màu bằng các phương pháp xét nghiệm, máy móc hiện đại, nhằm phát hiện sớm tình trạng bệnh và việc này nhằm có ảnh hưởng tới việc điều trị của bệnh. Đây là một loại bệnh nguy hiểm, tiên lượng bệnh xấu, chưa có thuốc đặc trị. Bệnh nhân mắc ung thư máu thường được điều trị bằng các phương pháp như hóa trị, xạ trị để kéo dài thời gian sống, nâng cao chất lượng cuộc sống. Điều trị ung thư tế bào máu bằng phương pháp cấy ghép tế bào gốc là thành tựu mới, mang lại hi vọng mới cho bệnh nhân và xã hội.
Tế bào gốc được lấy từ đâu?
Tế bào gốc tạo máu sẽ được lấy từ chính cơ thể người bệnh(tế bào gốc tự thân) hoặc từ bên ngoài(tế bào gốc dị thân).
- Tế bào gốc tự thân. Lấy tế bào của bệnh nhân để ghép trở lại cơ thể người bệnh. Nhiều nghiên cứu cho thấy những bệnh nhân sử dụng phương pháp ghép tủy tự thân có khả năng tái phát bệnh do các tế bào còn sót lại trước quá trình ghép tủy.
Phương pháp ghép tế bào gốc là gì?
Ghép tế bào gốc tạo máu hay thường được gọi ngắn gọn là ghép tủy là một phương pháp điều trị bệnh được ứng dụng nhiều trong ngành huyết học và ung thư học. Phương pháp cấy ghép tế bào gốc tạo máu lấy từ tủy xương hoặc từ máu ghép vào cơ thể người bệnh để chữa các bệnh lý huyết học và một số bệnh lý ung thư khác.


- Tế bào gốc dị thân. Tế bào gốc được lấy ra từ cơ thể của người khỏe mạnh Tuy nhiên sự không tương hợp miễn dịch giữa mảnh ghép và người nhận có thể gây biến chứng tử vong khi sử dụng phương pháp ghép tế bào gốc dị thân.
Ưu điểm của phương pháp ghép tế gốc với một số phương pháp khác trong điều trị ung thư tế bào máu?
Nếu như so với các kỹ thuật cấy ghép trước đây chỉ được áp dụng cho những người có tính di truyền phù hợp hoàn toàn hoặc ít nhất phải phù hợp 80-90% thì ở kỹ thuật ghép tế bào gốc tạo máu, người cho mảnh ghép tế bào gốc chỉ cần 50% gen phù hợp với người nhận là có thể áp dụng được kỹ thuật này.
Ai có thể được điều trị bằng phương pháp ghép tế bào gốc?
Phương pháp này thường được chỉ định cho những bệnh nhân ung thư máu có nguy cơ tái phát cao hoặc đã bị tái phát sau hoá trị, xạ trị. Bệnh nhân có đủ điều kiện sức khỏe để thực hiện ca cấy ghép.
Đánh giá phương pháp ghép tế bào gốc trong điều trị ung thư máu?
Đây là một phương pháp mới trong điều trị ung thư máu nói riêng và một số loại ung thư khác, thêm hi vọng mới cho bệnh nhân và gia đình. Là hướng đi mới cho điều trị ung thư tế bào máu nói riêng và những căn bệnh ung thư nói chung.

Khi bệnh nhân có các biểu hiện như đau đầu, chóng mặt, mất ngủ, cơ thể suy nhược, chán ăn, giảm trí nhớ…thì nên đến ngay các cơ sở chuyên khoa về ung bướu để được phát hiện và điều trị ung thư tế bào máu sớm nhất, tránh các biến chứng đáng tiếc có thể xảy ra.
Xem nguồn tại đây: http://ungbuouhv.blogspot.com/2015/02/ung-thu-mau-duoc-dieu-tri-theo-cach-cay-ghep.html

Thứ Tư, 4 tháng 2, 2015

Khám sức khỏe định kỳ giúp phát hiện sớm bệnh ung thư đầu cổ

Bệnh ung thư đầu cổ đó là căn bệnh quái ác cướp đi sinh mạng của nhiều người. Muốn biết ung thư đầu cổ thì nên đi khám ở đâu, thì bài viết dưới đây sẽ cung cấp cho các bạn biết thêm thông tin về việc bị ung thư đầu cổ khám ở đâu.
“Không ai biết khi nào bệnh ung thư sẽ gõ cửa nhà bạn” đây là lời cảnh báo của các bác sỹ Bệnh Viện Ung Bướu Hưng Việt chúng tôi.
Ung thư là nỗi sợ hãi của tất cả mọi người và phòng bệnh luôn là phương pháp được các chuyên gia của chúng tôi kêu gọi.
Ung thư đầu cổ là một bệnh lý thường gặp, tỉ lệ người mắc và tử vong vì căn bệnh này ngày một cao.
Một số phương pháp sau sẽ giúp bạn phòng được nguy cơ mắc bệnh tốt nhất.

Ung thư đại trực tràng co thể điều trị theo hướng phẫu thuật

Nguy cơ gây ung thư đại trực tràng gồm: yếu tố di truyền, polyp đại tràng, viêm loét đại tràng lâu ngày. Chẩn đoán ung thư đại tràng bằng chụp đại tràng có cản quan hay nội soi đại trực tràng kèm sinh thiết giúp chẩn đoán xác định. Điều trị ung thư đại trực tràng gồm phẫu thuật (là phương pháp chủ yếu), xạ trị, hoá trị tuỳ thuộc vào vị trí, kích thước, mức độ lan rộng của ung thư cũng như tuổi tác và sức khoẻ chung của người bệnh. Ung thư đại trực tràng có tiên lượng khá tốt, là bệnh có khả năng phòng và phát hiệnh sớm.

Điều trị ung thư đại trực tràng giai đoạn 3
Ở giai đoạn III của ung thư trực tràng, khối u đã xâm lấn vào các hạch bạch huyết lân cận nhưng chưa di căn những bộ phận khác của cơ thể. Đa số trường hợp, bệnh nhân ung thư trực tràng giai đoạn III được chỉ định điều trị bằng phẫu thuật kết hợp với xạ trị và hóa trị bổ trợ. Tỷ lệ mắc bệnh chỉ đứng sau ung thư dạ dày và thực quản. Loại ung thư ác tính này thường gặp ở các bộ phận của đại trực tràng ( chiếm khoảng 60%). Để hiểu rõ hơn về những nguy cơ của căn bệnh này, mời các bạn theo dõi bài viết dưới đây.



Thông thường, trước khi phẫu thuật, người bệnh ung thư đại trực tràng được chỉ định thực hiện xạ trị kết hợp hóa trị để làm thu nhỏ kích thước khối u, giúp quá trình phẫu thuật thuận lợi hơn, giảm biến chứng và nguy cơ ung thư tái phát ở vùng chậu sau điều trị. Sau đó, khối u trực tràng và các hạch bạch huyết lân cận sẽ được cắt bỏ. Phương pháp phẫu thuật thường được áp dụng nhất là cắt đoạn trực tràng chứa khối u và nối đoạn còn lại với hậu môn. Ngoài ra, tùy vào vị trí của khối u trên trực tràng mà có thể lựa chọn thực hiện phẫu thuật Miles (cắt bỏ trực tràng qua đường bụng và tầng sinh môn sau đó làm hậu môn nhân tạo) hoặc phẫu thuật cắt trước thấp (phẫu thuật bảo tồn cơ thắt)… Sau khi phẫu thuật, bác sĩ thường chỉ định thực hiện hóa trị để tiêu diệt những tế bào ung thư chưa được loại bỏ trong phẫu thuật và giúp giảm nguy cơ ung thư tái phát.




Để lựa chọn phương pháp điều trị hiệu quả nhất cho bệnh nhân, chúng tôi cần căn cứ vào bệnh trạng cụ thể của người bệnh bao gồm vị trí, kích thước của khối u, mức độ xâm lấn cũng như tình trạng sức khỏe tổng thể của người bệnh. Bạn nên đưa người thân đến bệnh viện để được các bác sĩ chẩn đoán và điều trị sớm nhất.
Xem thêm nguồn tham khảo: http://lifetech24h.blogspot.com/2015/02/phuong-phap-dieu-tri-hieu-qua-dai-truc-trang.html

Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2015

Tiếp xúc amiăng gây nên ung thư trung mô phúc mạc

Ung thư trung mô là một dạng u trung mô hiếm gặp và có tần suất cao hơn ở những công nhân tiếp xúc với amiăng. Đặc điểm lâm sàng là trướng hơi và đau bụng, cổ trướng, có khối u ở bụng hoặc hố chậu và tăng tiểu cầu. đây là bệnh ác tính là một loại ung thư tiến triển âm thầm có tiên lượng xấu và thời gian sống trung bình từ 6 đến 18 tháng. Khối u có nguồn gốc từ mặt trung mô của khoang màng phổi và phúc mạc, lớp tinh mạc hoặc màng ngoài tim
Có thể có yếu tố nguy cơ
Yếu tố có thể làm tăng nguy cơ u trung biểu mô bao gồm:
Lịch sử cá nhân tiếp xúc với amiăng. Nếu đã được trực tiếp tiếp xúc với sợi amiăng ở nơi làm việc hay ở nhà, nguy cơ bị u trung biểu mô ngày càng lớn.
Sống với một người làm việc với amiăng. Những người có tiếp xúc với amiăng có thể mang về nhà sợi trên quần áo và da. Những sợi này có thể đặt những người khác trong gia đình có nguy cơ bị u trung biểu mô. Những người làm việc với amiăng nên tắm và thay quần áo trước khi rời khỏi công việc.
Nếu có những đặc điểm trên thì bạn nên đến một cơ sở y tế uy tín để được chẩn đoán ung thư trung mô, nơi có nhiều máy móc hiện đại để kiểm tra và cho kết quả cho bạn nhé
Biểu hiện là: triệu chứng thường gặp và đáng ngại nhất của u trung mô màng phổi là khó thở dai dẳng do tràn dịch màng phổi một bên ồ ạt.
Virus khỉ được sử dụng trong vắc-xin bại liệt. Một vài nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ giữa virus u trung biểu mô và khỉ 40 (SV40), một loại virus ban đầu được tìm thấy ở khỉ. Hàng triệu người có thể đã bị phơi nhiễm với SV40 khi nhận được chủng ngừa bệnh bại liệt từ năm 1955 đến năm 1963, vì thuốc chủng ngừa đã được phát triển bằng cách sử dụng tế bào khỉ. Một khi nó đã được phát hiện ra rằng SV40 có liên quan đến ung thư, virus đã được loại bỏ từ thuốc chủng ngừa bệnh bại liệt. Dù SV40 làm tăng nguy cơ u trung biểu mô là một điểm của cuộc tranh luận, và nghiên cứu thêm là cần thiết.
Bức xạ. Nghiên cứu một số liên kết u trung biểu mô với chất phóng xạ thorium dioxide, được sử dụng cùng với X-quang để chẩn đoán điều kiện sức khỏe khác nhau từ những năm 1920 đến những năm 1950. U trung biểu mô cũng đã được liên kết với các phương pháp điều trị xạ trị ở ngực, chẳng hạn như những người sử dụng để điều trị ung thư vú hoặc ung thư hạch.
Lịch sử gia đình. Một lịch sử gia đình u trung biểu mô có thể làm tăng nguy cơ u trung biểu mô, nhưng cần nghiên cứu thêm để hiểu lý thuyết này.


nguồn: http://hoadephanoi.blogspot.com/2015/02/nguy-co-mac-ung-thu-trung-mo-tu-tiep.html

tìm hiểu về cách sử dụng các xét nghiệm ung thư bàng quang

Các bác sĩ sử dụng nhiều xét nghiệm để chẩn đoán ung thư và tìm ra nếu nó đã lan sang một phần khác của cơ thể, gọi là di căn. Một số xét nghiệm cũng có thể xác định phương pháp điều trị có thể là hiệu quả nhất. Một sinh thiết bàng quang hoặc sinh thiết từ một địa điểm khác (nếu ung thư đã lan rộng) là cách duy nhất để thực hiện một chẩn đoán xác định.
Cần làm các xét nghiệm gì để chẩn đoán ung thư bàng quang  , từ lâu bệnh này đã được coi là một căn bệnh của những người đàn ông lớn tuổi. Mặc dù nó là phổ biến hơn ở nam giới, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ có nhiều khả năng để trình bày các khối u tiên tiến hơn và có tiên lượng xấu hơn so với nam giới ở hầu hết các giai đoạn của bệnh. Sinh thiết là việc loại bỏ một số lượng nhỏ của các mô để kiểm tra dưới kính hiển vi. Kiểm tra hình ảnh có thể được sử dụng để tìm hiểu xem ung thư đã lan rộng. Danh sách này mô tả các tùy chọn cho việc chẩn đoán loại ung thư này, và không phải tất cả các bài kiểm tra được liệt kê sẽ được sử dụng cho tất cả mọi người. Bác sĩ có thể xem xét các yếu tố này khi lựa chọn một xét nghiệm chẩn đoán:
Tuổi tác và tình trạng sức khỏe
Các dấu hiệu và triệu chứng
Kết quả kiểm tra trước đó
Các bệnh ung thư bàng quang trước đó được tìm thấy, thì tốt hơn các cơ hội điều trị thành công. Tuy nhiên, vẫn chưa có một bài kiểm tra đó là chính xác, đủ để tầm soát dân số nói chung cho bệnh ung thư bàng quang, vì vậy hầu hết mọi người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư bàng quang sau khi có triệu chứng. Kết quả là, một số bệnh nhân có bệnh cao hơn (sau sân khấu) khi ung thư được tìm thấy đầu tiên, mặc dù hầu hết người được chẩn đoán mắc bệnh ung thư bàng quang xâm lấn.
Các xét nghiệm sau đây có thể được sử dụng để chẩn đoán và tìm hiểu thêm về bệnh ung thư bàng quang:
Chụp cộng hưởng từ (MRI). MRI sử dụng từ trường, không x-quang, để tạo ra hình ảnh chi tiết của cơ thể. MRI cũng có thể được sử dụng để đo kích thước của khối u. Một loại thuốc nhuộm đặc biệt được gọi là một phương tiện tương phản được đưa ra trước khi quét để tạo ra một bức tranh rõ ràng hơn. Thuốc nhuộm này có thể được tiêm vào tĩnh mạch của bệnh nhân hoặc đưa ra như là một viên thuốc để uống.
Nội soi bàng quang


Sau khi xét nghiệm chẩn đoán được thực hiện, bác sĩ sẽ xem xét tất cả các kết quả với bạn. Nếu chẩn đoán là ung thư, những kết quả này cũng giúp các bác sĩ mô tả ung thư; này được gọi là giai đoạn bệnh.
Phần tiếp theo sẽ giúp giải thích các giai đoạn khác nhau cho loại ung thư này. Sử dụng menu ở phía bên của màn hình để chọn giai đoạn, hoặc bạn có thể chọn một phần khác, để tiếp tục đọc hướng dẫn này.
Nguồn tham khảo tại đây: http://truongton.net/forum/blog.php?b=1075500

ung thư bàng quang ở phụ nữ khó phát hiện hơn ở nam giới

Ung thư bàng quang có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, những bệnh xuất hiện chủ yếu ở những người cao tuổi, chủ yếu ở khoảng 50- 60 tuổi. tỷ lệ mắc bênh ở nam cao hơn nữ khoảng 3- 4 lần. Ngoài ra, số lượng phụ nữ được chẩn đoán ung thư bàng quang đã được tăng lên. Mỗi quan hệ giữa bệnh ung thư bàng quang và tỉ lệ mắc phải ở phụ nữ cách phòng tránh nó như thế nào? 
Ung thư bàng quang từ lâu đã được coi là một căn bệnh của những người đàn ông lớn tuổi. Mặc dù nó là phổ biến hơn ở nam giới, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng phụ nữ có nhiều khả năng để trình bày các khối u tiên tiến hơn và có tiên lượng xấu hơn so với nam giới ở hầu hết các giai đoạn của bệnh. Theo một báo cáo được công bố bởi Viện Ung thư Quốc gia, tỷ lệ sống cho phụ nữ bị ung thư bàng quang bị tụt hậu so với nam giới ở tất cả các giai đoạn của bệnh. Phụ nữ Mỹ gốc Phi, đặc biệt là có kết quả kém khi được chẩn đoán mắc bệnh ung thư bàng quang. Họ trình bày với tỷ lệ cao nhất của các khối u tiên tiến và mạnh mẽ khi so sánh với những người đàn ông Mỹ gốc Phi và người đàn ông da trắng và phụ nữ. 
Điều quan trọng là cho phụ nữ để hiểu những rủi ro của họ đối với ung thư bàng quang và biết những gì để yêu cầu bác sĩ của họ.
Nhận thức là quan trọng: trong hầu hết các trường hợp, ung thư bàng quang có thể điều trị, nhưng chẩn đoán kịp thời là rất quan trọng.
Tìm hiểu sự thật về phụ nữ và ung thư bàng quang.
Tại sao có sự chênh lệch?
Trong nhiều trường hợp, có sự chậm trễ đáng kể trong việc chẩn đoán ung thư bàng quang ở phụ nữ. Nhiều phụ nữ bỏ qua các triệu chứng ung thư bàng quang máu cơ bản nhất trong nước tiểu mà họ có thể kết hợp với kinh nguyệt hoặc mãn kinh và chậm trễ báo cáo các triệu chứng này bác sĩ của mình. Ngay cả sau khi báo cáo các vấn đề để các bác sĩ của họ, có máu trong nước tiểu có thể được ban đầu chẩn đoán nhầm là một triệu chứng như chảy máu sau mãn kinh, viêm bàng quang hoặc đơn giản là một bệnh nhiễm trùng đường tiết niệu. Kết quả là, một chẩn đoán bệnh ung thư bàng quang có thể được bỏ qua trong một năm hoặc nhiều hơn.
Những gì phụ nữ cần biết về bệnh này là gì?
• Ung thư bàng quang có thể ảnh hưởng đến phụ nữ ở mọi lứa tuổi.
• Hút thuốc lá là yếu tố nguy cơ lớn nhất. Những người hút thuốc bị ung thư bàng quang gấp hai lần như người không hút thuốc.
• Các triệu chứng ung thư bàng quang có thể giống với những người của một nhiễm trùng bàng quang và hai vấn đề có thể xảy ra với nhau. Nếu triệu chứng không biến mất sau khi điều trị bằng kháng sinh, nhấn mạnh khi tiếp tục đánh giá để xác định xem ung thư bàng quang là hiện tại.
• Ung thư bàng quang có tỷ lệ tái phát cao nhất của bất kỳ hình thức ung thư-từ 50-80 phần trăm.
Bạn có thể làm gì?
Điều quan trọng nhất đối với bạn để biết các dấu hiệu và triệu chứng của ung thư bàng quang và báo cáo với bác sĩ của bạn ngay lập tức. Phổ biến nhất đăng máu trong nước tiểu có thể được nhìn thấy (mặc dù đôi khi nó có thể xuất hiện màu nâu sẫm hoặc màu da cam), nhưng chỉ có thể cũng được phát hiện dưới một cuộc kiểm tra bằng kính hiển vi. Điều quan trọng là phải đi khám bác sĩ để kiểm tra thường xuyên. Hầu hết chảy máu liên quan với ung thư bàng quang là không đau, tuy nhiên, khoảng 30 phần trăm bệnh nhân ung thư bàng quang kinh nghiệm đốt, đi tiểu thường xuyên hoặc một cảm giác làm rỗng không đầy đủ khi họ đi tiểu.
Nếu bạn gặp bất kỳ những triệu chứng này, hãy gặp bác sĩ càng sớm càng tốt.
Lời khuyên từ người phụ nữ sống sót
Các tin tốt là trong hầu hết các trường hợp, nếu được phát hiện sớm, bệnh ung thư bàng quang là một bệnh dễ quản lý. Có hàng chục ngàn phụ nữ sống sót ung thư bàng quang ngày nay sống.