Hiển thị các bài đăng có nhãn biểu hiện ung thư máu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn biểu hiện ung thư máu. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 10 tháng 3, 2015

Bệnh bạch cầu mãn tính myelomonocytic

Bệnh bạch cầu mãn tính myelomonocytic (CMML) hay gọi chung là bệnh ung thư máu là một bệnh myelodysplastic / myeloproliferative. Điều này có nghĩa rằng là có đặc điểm của cả hai hội chứng myelodysplastic và rối loạn myeloproliferative.
Hội chứng myelodysplastic là một nhóm bệnh trong đó tủy xương không tạo đủ tế bào khỏe mạnh trưởng thành màu đỏ máu, các tế bào máu trắng và tiểu cầu.
Trong rối loạn myeloproliferative, các overproduces cơ thể (làm cho quá nhiều) 1 hoặc nhiều loại tế bào máu (hồng cầu, bạch cầu hay tiểu cầu).
Bệnh myelodysplastic / myeloproliferative có thể tiến triển thành bệnh bạch cầu cấp tính.
CMML là một bệnh trong đó có quá nhiều tế bào gốc trong tủy xương phát triển thành 2 loại tế bào máu trắng, gọi là bạch cầu đơn nhân và myelocytes. Một số tế bào không phát triển thành các tế bào máu trắng trưởng thành. Các tế bào chưa trưởng thành được gọi là vụ nổ. Dần dần các vụ nổ, bạch cầu đơn nhân và myelocytes chèn lấn các tế bào máu đỏ và tiểu cầu trong tủy xương.
CMML thường xảy ra ở người lớn tuổi hơn 60 và thường gặp ở nam nhiều hơn ở phụ nữ.
Bất thường nhiễm sắc thể được tìm thấy ở 20-40% người bị CMML.
CMML là tương tự như bệnh bạch cầu tủy mãn tính (CML). Nhưng các tế bào CMML không có Philadelphia (Ph) nhiễm sắc thể hoặc đột biến BCR-ABL, đặc trưng cho CML.
Một PDGFR-B và gen đột biến TEL có mặt ở một số người với CMML.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phân loại thành 2 phân nhóm CMML:
CMML-1 - dưới 5% của các tế bào trong máu và ít hơn 10% của các tế bào trong tủy xương là vụ đánh bom
CMML-2 - 5-19% của các tế bào trong máu và 10-19% của các tế bào trong tủy xương là vụ đánh bom
Tiếp xúc trước với liều cao của bức xạ hoặc điều trị bằng một số loại thuốc chống ung thư có thể làm tăng nguy cơ phát triển CMML.
Các dấu hiệu, triệu chứng,  và biểu hiện bệnh ung thư máu
Các dấu hiệu và triệu chứng sau đây có thể phát triển các tế bào bất thường như xây dựng lên trong máu và tủy xương:
cơn sốt
nhiễm trùng
yếu đuối
mệt mỏi
dễ bị bầm tím hoặc chảy máu
xanh xao
mở rộng của lá lách, gan hoặc cả hai
khó chịu hoặc cảm giác đầy bụng dưới xương sườn
giảm cân

Trở lại đầu trang
Chẩn đoán
Một lá lách hoặc gan có thể được cảm nhận trong một cuộc kiểm tra thường xuyên. CMML thường được chẩn đoán bằng xét nghiệm sau:
Một thử máu (CBC) đo lường số lượng và chất lượng của các tế bào máu đỏ, các tế bào máu trắng và tiểu cầu.
Sự giảm các tế bào máu đỏ và tiểu cầu và sự gia tăng các tế bào máu trắng là phổ biến trong CMML.
Hiện có nhiều bạch cầu đơn nhân (một loại tế bào máu trắng) và myelocytes (một loại chưa trưởng thành tế bào máu trắng).
Xét nghiệm máu ngoại vi đo lường số lượng, chủng loại, hình dạng và kích thước của các tế bào máu trong một mẫu máu.
Xét nghiệm sinh hóa máu đo hóa chất trong máu. Họ cho thấy cơ quan nào đó đang hoạt động tốt như thế nào và cũng có thể được sử dụng để phát hiện bất thường. Các mức sau đây có thể được nâng lên trong CMML:
lactate dehydrogenase (LDH)
beta-2-microglobulin
Tủy xương khát vọng và sinh thiết là một thủ tục trong đó một số lượng nhỏ của tủy xương và xương được lấy ra để kiểm tra dưới kính hiển vi. Tủy xương là mô xương bên trong khi các tế bào máu.
Phân tích tế bào kiểm tra mẫu máu hoặc tủy xương cho các bất thường nhiễm sắc thể và để xem nếu Philadelphia (Ph) nhiễm sắc thể là mất tích hoặc có một gen đột biến BCR-ABL.
Xem thêm cách chẩn đoán ung thư máu: http://benhvienungbuouhungviet.com/cac-phuong-phap-chan-doan-benh-ung-thu-mau/

Thứ Năm, 12 tháng 2, 2015

Dấu hiệu sức khỏe bất thường có thể bạn cần quan tâm

Trong ung thư tế bào máu cấp, các tế bào bất thường là các nguyên bào còn rất non và không thể thực hiện chức năng bình thường của mình. Số lượng nguyên bào tăng lên rất nhanh và bệnh xấu đi nhanh chóng. Trong bệnh ung thư tế bào máu mạn tính, một số nguyên bào xuất hiện, nhưng nói chung những tế bào này có độ trưởng thành cao hơn và có thể thực hiện được một số chức năng bình thường của chúng. Hơn nữa, số lượng nguyên bào tăng chậm hơn so với mức độ tăng trong bệnh ung thư tế bào máu cấp tính. Kết quả là bệnh ung thư tế bào máu mạn tính xấu đi dần dần
Đốm đỏ trên da: Khi tiểu cầu giảm, nó sẽ gây ra dấu hiệu là đổi màu trên da.
Đau xương: Các cơn đau có thể xuất hiện tùy theo mức độ của bệnh và thường xuất hiện ở khớp xương chân, đầu gối, cánh tay, lưng… Nguồn gốc của những cơn đau này là từ tủy xương – nơi sản xuất ra các tế bào máu.

Nhức đầu: Nguyên nhân của hiện tượng này là do sự suy thoái lưu lượng máu đưa lên não khiến não không được cungn cấp đủ oxy nên gây đau đầu.
Sưng hạch bạch huyết: Khi bị bệnh ung thư máu, các tế bào bạch cầu mất dần khả năng miễn dịch đối với các vi khuẩn, virus xâm nhập từ bên ngoài. Viêm hạch bạch huyết là một dạng viêm bạch cầu gây ra do vi khuẩn. Do vậy, sưng hạch bạch huyết thường nổi dưới da của bệnh nhân ung thư máu và không gây đau.
Xanh xao, mệt mỏi: Hồng cầu là tế bào máu có chức năng chính là hô hấp, chúng vận chuyển oxy đến tất cả các cơ quan, các mô. Thiếu máu khiến cơ thể trở nên mệt mỏi, xanh xao bởi cơ thể không đáp ứng được nhu cầu trao đổi dưỡng khí.
Chảy máu cam: Chảy máu cam là hiện tượng khá thường gặp, tuy nhiên, nhiều người thường xem nhẹ hiện tượng bệnh lý này.
Sốt cao thường xuyên: Chính vì thế, cơ thể chúng ta thường xuyên bị vi khuẩn, virus từ bên ngoài xâm nhập. Hiện tượng suy giảm miễn dịch thường thể hiện qua những cơn sốt cao, những vết thương nhiễm trùng khó lành.
Khó thở: Như đã nói ở trên, ung thư máu dẫn đến sự suy giảm hồng cầu, điều này đã khiến cơ thể không có đủ oxy để thực hiện các chức năng hô hấp và trao đổi dưỡng khí trong cơ thể.
Đau bụng: Khi sự tiến triển của bệnh ung thư máu gia tăng ở gan và lá lách, nó có thể gây sưng tấy ở các bộ phận này. Chính vì thế, bệnh nhân sẽ có cảm giác đau bụng, đầy hơi. Mất cảm giác ngon miệng, buồn nôn và ói mửa thường là kết quả xuất phát từ gan và lá lách bị tổn thương.
Để tìm ra nguyên nhân của các triệu chứng, bác sĩ sẽ khai thác tiền sử bệnh sử của bệnh nhân và tiến hành khám lâm sàng. Bên cạnh việc kiểm tra các dấu hiệu sức khỏe chung, bác sĩ còn khám gan, lách, các hạch ở nách, bẹn và cổ.
Xét nghiệm máu cũng giúp cho việc chẩn đoán ung thư máu. Mẫu máu được quan sát dưới kính hiển vi để xem hình dạng tế bào máu và xác định số lượng tế bào trưởng thành và số lượng tế bào non (nguyên bào). Mặc dù xét nghiệm máu có thể cho biết bệnh nhân bị bệnh ung thư tế bào máu, nhưng không xác định được là loại ung thư tế bào máu gì.
Để xét nghiệm kỹ hơn về tế bào ung thư máu hoặc xác định loại ung thư tế bào máu, bác sỹ chuyên khoa huyết học, chuyên khoa ung thư hoặc chuyên gia bệnh học phải quan sát tủy xương dưới kính hiển vi. Mẫu bệnh phẩm được lấy bằng cách chọc hút tủy xương ở các xương dẹt (thường là xương chậu). Khicần thiết có thể phải sinh thiết tủy xương bằng kim lớn hơn để lấy ra một mảnh xương và tuỷ xương nhỏ. Nếu phát hiện ra tế bào ung thư máu trong mẫu tủy xương, bác sĩ sẽ chỉ định các xét nghiệm khác để xác định phạm vi của bệnh. Chọc lấy dịch tủy sống giúp phát hiện tế bào ung thư trong dịch não tủy. Chụp X quang lồng ngực có thể phát hiện các dấu hiệu bệnh trong lồng ngực.
bệnh ung thư tế bào máu được điều trị bằng hóa chất. Một số bệnh nhân còn được điều trị bảng tia phóng xạ hoặc ghép tủy xương hoặc liệu pháp sinh học. Trong một số trường hợp, phẫu thuật cắt lách có thể là một phần trong phác đồ điều trị.
Hóa trị liệu là phương pháp sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư. Tùy thuộc vào loại ung thư tế bào máu, bệnh nhân có thể được điều trị ung thư máu bằng một loại thuốc đơn độc hoặc phối hợp hai hay nhiều loại thuốc.
Một số thuốc chống ung thư dùng đường uống. Còn lại hầu hết các thuốc được tiêm truyền tĩnh mạch. Thông thường thuốc được tiêm truyền vào tĩnh mạch qua một ống thông đặt vào một tĩnh mạch lớn (tĩnh mạch cảnh trong hoặc tĩnh mạch dưới đòn). Nhờ đó tránh cho bệnh nhân khỏi bị đau đớn và các tổn thương da khi phải tiêm nhiều lần.

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2015

Biểu hiện của ung thư máu không rõ ràng cần chẩn đoán

Ung thư bạch cầu hay được gọi là ung thư máu bệnh thường xảy ra khi quá trình sản xuất với trật tự bình thường này bị gián đoạn sản sinh các tế bào tủy chưa trưởng thành, được gọi là sự bộc phát bạch cầu. Sự bộc phát này sẽ dồn ép các tế bào tủy bình thường và làm giảm các tế bào máu bình thường.
Các tế bào bạch cầu đóng vai trò quan trọng hệ thống miễn dịch, bảo vệ cơ thể trước sự xâm nhập của các loại virus và vi khuẩn. Do đó nếu các tế bào bạch cầu không hoạt động bình thường, cơ thể có nguy cơ bị nhiễm trùng nghiêm trọng dẫn tới tình trạng tử vong.
Nguyên nhân
Hiện tại nguyên nhân ung thư máu là vấn đề chưa được lý giải rõ ràng. Tuy nhiên có một số yếu tố nguy cơ nhất định được cho là có thể gây ung thư bạch cầu.
Có tiền sử thực hiện hóa trị hoặc xạ trị.
Tiếp xúc với xạ trị liều cao hoặc benzen (có trong xăng pha chì, khói thuốc lá, các cở sở sản xuất hóa chất).
Gia đình có người thân đã từng mắc bệnh ung thư bạch cầu.
Rối loạn về di truyền, chẳng hạn như hội chứng Down hoặc thiếu máu Faconi.
Rối loạn máu, chẳng hạn như hội chứng myelodysplastic có thể làm tăng nguy cơ phát triển bệnh ung thư bạch cầu.

Các loại của ung thư bạch cầu
Bệnh bạch cầu cấp tính phát triển trong vòng vài ngày đến vài tuần. Bệnh xảy ra khi các tế bào bạch cầu chưa trưởng thành phát triển và phân chia không kiểm soát, nhưng không phát triển thành các tế bào bình thường. Các tế bào này không thể thực hiện chức năng thông thường của tế bào máu trắng, làm tăng nguy cơ nhiễm trùng. Bởi vì cơ thể sản xuất quá nhiều tế bào bạch cầu dẫn tới tình trạng sụt giảm số lượng các tế bào hồng cầu và tiểu cầu, gây ra thiếu máu và rối loạn đông máu.
Bệnh bạch cầu mạn tính có thể tiến triển trong vòng vài tháng đến nhiều năm. Bệnh liên quan tới sự sản xuất quá mức các tế bào bạch cầu trưởng thành, nhưng các tế bào này không thể hoạt động như các tế bào bạch cầu bình thường.
Ung thư bạch cầu bao gồm 4 loại chính sau:
Bệnh bạch cầu lymphotic cấp tính hay còn gọi là ung thư bạch cầu lympho ác tính(ALL): là hình thức phổ biến nhất của bệnh bạch cầu ở trẻ em. Bệnh xảy ra khi các tế bào bạch cầu được gọi là tế bào lympho được sản sinh không kiểm soát, dẫn tới sự biểu hiện quá mức của các tế bào lympho chưa trưởng thành, gây trở ngại cho việc sản xuất hồng cầu và tiểu cầu.
Bệnh bạch cầu lymphotic mạn tính (CLL): thường gặp ở những người từ 55 tuổi trở lên và nguy cơ mắc bệnh ở đàn ông gấp đôi phụ nữ. Bệnh tiến triển chậm hơn so với bệnh bạch cầu lympho cấp tính.
Bệnh bạch cầu myeloid cấp tính (AML): là hình thức phổ biến nhất của bệnh bạch cầu cấp tính ở người lớn. Bệnh gây ra sự sản xuất không kiểm soát được của một loại tế bào bạch cầu được gọi là myelocytes, dẫn tới sự phát triển quá mức của các tế bào chưa trưởng thành myeloblasts, ảnh hưởng tới hoạt động của các tế bào hồng cầu, tiểu cầu và các tế bào bạch cầu bình thường khác.
Bệnh bạch cầu tủy mạn tính (CML): thường xảy ra ở người cao tuổi và rất hiếm gặp ở trẻ em. Bệnh được xác định là có liên quan tới nhiễm sắc thể Philadelphia.
Biểu hiện ung thư  máu thường gặp là:
Sưng hạch bạch huyết và thường không đau (đặc biệt là các hạch bạch huyết ở cổ hoặc nách).
Sốt hoặc đổ mồ hôi đêm.
Nhiễm trùng thường xuyên.
Chướng bụng do lá lách to.
Sốt và đổ mồ hôi ban đêm.
Dễ chảy máu và bầm tím (chảy máu nướu răng, vết thương lâu lành trên da, hoặc xuất hiện những nốt nhỏ dưới da).
Giảm cân hoặc chán ăn không có lý do.
Đau ở xương hoặc khớp.
Cảm thấy yếu và mệt mỏi.