Thứ Tư, 4 tháng 3, 2015

Tư liệu về ung thư vú nam

Nghiên cứu bệnh chứng dựa vào dân số này đã được tiến hành từ 2000-2003 tại hai thành phố lớn ở Ba Lan, Warsaw và Lodz, và ghi danh 2.386 trường hợp ung thư vú và 2.798 tuổi và trang web phù hợp với các điều khiển. Nghiên cứu sử dụng nhà nước-of-the tiếp xúc nghệ thuật kỹ thuật đánh giá, bao gồm cả các cuộc phỏng vấn chi tiết cá nhân, đo nhân trắc, giám sát hoạt động thể chất, và bộ sưu tập các mẫu bụi từ nhà của người tham gia. Để tạo điều kiện học tập của một loạt các chỉ dấu sinh học, bộ sưu tập mẫu vật sinh học bao gồm các mẫu máu được xử lý như trữ lạnh máu toàn phần, huyết thanh + cục máu đông, plasma + Buffy áo + các tế bào máu đỏ; 12 giờ nước tiểu qua đêm; paraffin nhúng khối u và các mô bình thường; và mô lành từ khối u, mô ngực không ung thư, và mô mỡ vú.

Các nhà điều tra DCEG thu được mười năm thông tin theo dõi từ hồ sơ y tế cho khoảng 1.300 trường hợp ung thư vú được tuyển chọn ở Warsaw và 300 trường hợp được tuyển chọn ở Lodz, cũng như số liệu tử vong trên hầu hết các trường hợp trong nghiên cứu sử dụng các cơ sở dữ liệu Registry ung thư và giấy chứng tử Văn phòng ở Ba Lan. Các dự án nghiên cứu chính được thực hiện bao gồm:
Phân tích các yếu tố câu hỏi dựa trên và / đo nhân trắc hoạt động thể chất có liên quan đến nguy cơ ung thư và kết quả lâm sàng;
Xác định dấu hiệu nhạy cảm di truyền nguy cơ ung thư và kết quả lâm sàng bằng gen ứng cử viên và genome (GWAS) phương pháp tiếp cận;
Phân tích của các mẹ đánh dấu mô / u để đánh giá mối quan hệ với các yếu tố nguy cơ ung thư (được biết hoặc nghi ngờ), và tác động của dự đoán tái phát và sống sót sau khi chẩn đoán;
Phân tích các chỉ dấu sinh học trong DNA (thay đổi soma), các tế bào máu bảo quản lạnh, huyết thanh / huyết tương, nước tiểu và trong mối quan hệ với nguy cơ ung thư và kết quả lâm sàng
Xem thêm thông tin về ung thư vú nam được phát hiện sớm hơn không 

Thứ Hai, 2 tháng 3, 2015

Tìm hiểu về những điều xây quanh bệnh ung thư vòm họng

Tìm hiểu về nguyên nhân bệnh ung thư vòm họng hiện vẫn chưa thể khẳng định cụ thể. Virut EBV (Epstein Barr Virus) có thể nhiễm vào cơ thể và tồn tại lâu mà không gây xáo trộn gì. Thói quen ăn cá muối khô từ tuổi nhỏ kích hoạt virus gây ung thư vòm họng. Cá muối khô là thức ăn để dành có chứa nitrosamin, chất lâu ngày có thể gây ung thư mạnh. Các tác nhân khác kích hoạt virus gồm: chất benzopyren, khói công nghiệp, hóa chất bốc hơi, viêm vòm họng mãn tính, khói thuốc lá, rượu, tiếp xúc với forol, bụi gỗ. Ngoài ra, nguy cơ mắc bệnh ung thư vòm họng còn có liên quan tới yếu tố chủng tộc và gia đình.

Nguyên nhân chính gây ra ung thư vòm họng chưa được xác định rõ ràng, nhưng theo nghiên cứu thì các yếu tố sau đây có nguy cơ gây ra bệnh ung thư vòm họng:
Virus Epstein-barr: Gen của virút epstein- Barr cũng được tìm thấy trong bệnh phẩm sinh thiết từ khối u vòm họng.
Thuốc lá, rượu cũng được xem là yếu tố nguy cơ gây mắc bệnh này.
Các yếu tố môi trường: Nghề nghiệp thường xuyên tiếp xúc với khói, bụi, môi trường kém thông khí, hoá chất (đặc biệt là các hydrocacbon thơm), ăn nhiều cá muối và các thức ăn lên men (dưa, trứng, các loại củ) được xem là những yếu tố nguy cơ cao gây mắc bệnh ung thư vòm mũi họng.

Yếu tố di truyền: Các nghiên cứu về di truyền học gần đây cho thấy có liên quan giữa mất gen ức chế u ở những bệnh nhân ung thư vòm họng.
Tuổi và giới:
Bệnh có thể gặp ở mọi lứa tuổi, thấp nhất là 5 và cao nhất là 85, tuy nhiên lứa tuổi hay gặp nhất từ 30 - 55 chiếm tỉ lệ 70%.
Giới tính: Bệnh gặp ở cả hai giới, tuy nhiên tỉ lệ nam/nữ = 2,5/1.
Lý do vì sao bệnh ung thư vòm họng lại hay tái phát ? Việc tiến hành điều trị lại khi bệnh tái phát như thế nào? Việc làm giảm tỉ lệ tái phát lại được triển khải như thế nào. Dưới đây là một số nguyên nhân được biết đến làm tăng nguy cơ bệnh tái phát như:
- Sử dụng các chất kích thích. Nhiều nam giới có thói quen uống bia, rượu, đây cũng là nguyên nhân gây ra các bệnh ung thư của con người. Những người đã điều trị ung thư vòm họng kết hợp với những chất kích thích này làm tăng nguy cơ tái phát bệnh cao hơn. Những người sử dụng đồng thời thuốc lá và uống bia rượu thì nguy cơ tái phát bệnh cao hơn nhiều lầ so với những người không sử dụng các chất này.
- Bệnh nhân không tuân thủ hướng dẫn của bác sỹ. Sau khi được điều trị tại bệnh viện, trước khi ra về bệnh nhân sẽ được các bác sỹ của chúng tôi hướng dẫn cách vệ sinh, hướng dẫn sử dụng các loại thuốc hỗ trợ, chế độ sinh hoạt cũng như lịch tái khám cụ thể. Khi bệnh nhân không tuân thủ những chỉ dẫn của bác sỹ nguy cơ tái phát bệnh hay vết mổ nhiễm trùng là rất cao.
- Sử dụng thuốc lá. Thuốc lá được biết đến là nguyên nhân gây ra các bệnh ung thư cho con người trong đó có bệnh ung thư vòm họng. Những người nghiện thuốc lá có nguy cơ cao mắc căn bệnh này, đặc biệt với những người đã điều trị ung thư vòm họng lại sử dụng thuốc lá thì mức độ nguy hiểm lại tăng lên gấp nhiều lần.

- Vệ sinh kém. Đối với những bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp phẫu thuật thì việc vệ sinh vết mổ có vai trò vô cùng quan trong. Việc vệ sinh vết mổ kém còn làm tăng nguy cơ nhiễm trùng vùng họng, bệnh nhân sẽ có triệu chứng sưng tấy, viêm nhiễm, đau nhức.

Sử dụng thuốc tránh thai không nên dùng chung với các loại khác

Những thuốc không dùng khi sử dụng thuốc tránh thai
Các loại thuốc tránh thai (chứa 1 thành phần: progesteron hoặc phối hợp 2 thành phần: estrogen + progesteron) có tác dụng ngăn cản rụng trứng, làm đặc chất nhày cổ tử cung, ngăn không cho tinh trùng vào tử cung thường được chị em ưa chuộng hơn các phương pháp tránh thai khác (như: bao cao su,vòng tránh thai, màng ngăn cổ tử cung, ...). Hiện nay thuốc tránh thai được nhiều người sử dụng và mang lại kết quả cao, nhưng với một số lý do ngoài ý muốn phải dùng chung với các loại thuốc khác thì cần phải chú ý. Tuy vậy, một số người không được bác sĩ tư vấn khi dùng thuốc chữa bệnh (trong khi đang dùng thuốc tránh thai) nên đã "vỡ kế hoạch". Do đó, những người đang sử dụng thuốc tránh thai cần biết những loại thuốc làm giảm hoặc làm mất hiệu lực của thuốc tránh thai.
Thuốc làm mất tác dụng của thuốc tránh thai bạn cần biết khi sử dụng các loại thuốc khác:
- Thuốc chống nấm: griseofulvin.
- Các loại thuốc trị bệnh lao: rimifon, rifampicin...
- Các loại thuốc ngủ, an thần kinh: diazepam, phenobarbital...
- Các loại thuốc chống động kinh: carbamazepin, phenytoin, trimethadion, navalproate...
Các loại thuốc làm giảm hiệu lực của thuốc tránh thai là:
- Các loại thuốc nhuận tràng.
- Các loại thuốc chống đông máu.
- Than hoạt và các chất hấp phụ (chống ngộ độc).
- Các loại nội tiết tuyến giáp khi dùng.
- Các loại kháng sinh, sulfamid.
- Các loại thuốc trị HIV.
- Các loại thuốc chống tăng huyết áp.
- Các loại thuốc hạ sốt, giảm đau.
- Các loại chống trầm cảm (loại sử dụng cho tình trạng bệnh 3 vòng).
- Vitamin C - promethazin - cimetidin - theophyllin
Khi có bệnh cần điều trị bằng các loại thuốc trên thì dùng các phương pháp tránh thai khác.
Để đảm bảo an toàn hiệu quả cho người dùng thuốc, nhà thuốc cũng cần biết các thông tin trên để tư vấn cho người mua thuốc.
Có thể bạn đang quan tâm tới việc điều trị ung thư đầu cổ có kết quả cao nhất khi phát hiện sớm và có phương pháp điều trị kịp thời nhất , nguyên nhân bệnh ung thư đầu cổ

cần làm gì để chẩn đoán bệnh ung thư tinh hoàn

Bệnh ung thư tinh hoàn là bệnh ít gặp, chiếm khoảng 1% ung thư ở nam giới, chiếm 5% tỉ lệ bệnh ung thư về đường tiết liệu, sinh dục. Ở Mỹ theo ước tính hàng năm có khoảng 7.100 trường hợp được phát hiện mắc bệnh và khoảng 370 người tử vong về căn bênh này. Ung thư tinh hoàn phổ biến ở người từ 20 – 34 tuổi và là một trong những loại bệnh ung thư cố thể chữa khỏi.
Khi thấy tinh hoàn có những biểu hiện sau cần đi khám ngay vì có thể bạn đang mắc ung thư tinh hoàn hoặc một căn bệnh liên quan đến hệ tiết liệu, sinh dục.
Chẩn đoán câm sàng:
- Bệnh nhân thường thấy tăng kích thước của bìu, có thể co kéo thừng tinh hoặc có cảm giác nặng bìu.
- Sờ thấy khối u tinh hoàn, không đau
- Đau bụng đối với những trường hợp có tinh hoàn ẩn
- Nổi hạch bất thường vùng bẹn, hạch cổ..
- Thăm khám tinh hoàn, so sánh hai bên
Đây là một loại bênh nguy hiểm, việc chẩn đoán và điều trị bệnh ung thư tinh hoàn là cần thiết. Một số phương pháp chẩn đoán ung thư tinh hoàn là:
1. Tự khám tinh hoàn.
- Quan sát xem có bị sưng ở vùng tinh hoàn hay không.
- Kiểm tra tinh hoàn bằng hai tay.
- Nắn nhẹ hai bên tinh hoàn để xác định hai bên tinh hoàn có bằng nhau hay không.
- Cần đến cơ sở kiểm tra phát hiện sớm ung thư và có phương pháp điều trị thích hợp khi thấy các biểu hiện bất thường.
Việc tự thăm khám tinh hoàn nên thực hiện thường xuyên để phát hiện bệnh sớm. Ở giai đoạn đầu bệnh ung thư tinh hoàn không có biểu hiện rõ rệt, việc tự khám có thể không phát hiện ra bệnh hoặc bệnh nhân dễ nhầm lẫn với một số bệnh khác. Trong trường hợp bị nghi là ung thư tinh hoàn bạn cần đến ngay cơ sở chuyên khoa về ung bướu để được phát hiện và điều trị kịp thời.
2. Khám tinh hoàn tại các cơ sở y tế.
- Thực hiện bởi thầy thuốc chuyên khoa và các thiết bị y tế nhằm phát hiện các tổn thương tinh hoàn. Đặc biệt với các trường hợp tinh hoàn ẩn.
- Nếu có khối u bất thường các bác sỹ sẽ chỉ định để làm các xét nghiệm loại trừ ung thư.
- Siêu âm tinh hoàn: mục đích phát hiện khối tổn thương bên trong tinh hoàn. Siêu âm bìu có thể phát hiện 75% các trường hợp khối u hoặc tràn dịch màng tinh hoàn
- Xét nghiệm tế bào học: chọc hút dịch khối u.
- Xét nghiệm chất chỉ điểm khối u.
- Chụp các lớp vi tính để phát hiện tổn thương di căn.
- Siêu âm ổ bụng phát hiện các tổn thương bất thường khác ở ổ bụng.
Tiên lượng của ung thư tinh hoàn giai đoạn muộn đã cải thiện rõ rệt trong những năm gần đây nhờ thành tựu của các phác đồ điều trị mới. Có tới 80% bệnh nhân mắc ung thư tinh hoàn sống qua 5 năm. Tuy nhiên nếu bệnh được phát hiện và điều trị ở giai đoạn sớm sẽ giảm chi phí điều trị, giảm thiểu đau đớn và các biến chứng do bệnh gây ra.

Yếu tố nào quyết đinh thanh công của ung thư máu

Điều trị cho bệnh bạch cầu của bạn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Bác sĩ của bạn xác định phương pháp điều trị bệnh ung thư máu của bạn dựa vào tuổi và sức khỏe tổng thể, các loại bệnh bạch cầu mà bạn có, và xem nó đã lan đến các bộ phận khác của cơ thể.
Phương pháp điều trị thường được sử dụng để chống lại bệnh bạch cầu bao gồm
Hóa trị. Hóa trị là hình thức chủ yếu của điều trị bệnh bạch cầu. Thuốc điều trị này sử dụng hóa chất để tiêu diệt tế bào ung thư bạch cầu.
Tùy thuộc vào loại bệnh bạch cầu mà bạn có, bạn có thể nhận được một loại thuốc duy nhất hoặc một sự kết hợp của các loại thuốc. Những loại thuốc này có thể đến trong một dạng thuốc viên, hoặc họ có thể được tiêm trực tiếp vào tĩnh mạch.
Liệu pháp sinh học. Công trình trị liệu sinh học bằng cách giúp hệ thống miễn dịch của bạn nhận ra và các tế bào bạch cầu tấn công.

Liệu pháp nhắm mục tiêu. Liệu pháp nhắm mục tiêu sử dụng thuốc mà tấn công lỗ hổng cụ thể trong các tế bào ung thư của bạn.
Ví dụ, các thuốc imatinib (Gleevec) dừng hoạt động của các protein trong các tế bào bạch cầu của người bị bệnh bạch cầu dòng tủy mãn tính. Điều này có thể giúp kiểm soát bệnh.
Xạ trị. Xạ trị sử dụng X-quang hoặc tia năng lượng cao khác để gây thiệt hại các tế bào bạch cầu và ngăn chặn sự phát triển của họ. Trong thời gian xạ trị liệu, bạn nằm trên bàn trong khi một máy lớn di chuyển xung quanh bạn, chỉ đạo các bức xạ cho các huyệt đạo trên cơ thể của bạn.
Bạn có thể nhận được bức xạ trong một khu vực cụ thể của cơ thể, nơi có một bộ sưu tập của các tế bào ung thư bạch cầu, hoặc bạn có thể nhận được bức xạ trên toàn bộ cơ thể của bạn. Xạ trị có thể được sử dụng để chuẩn bị cho việc cấy ghép tế bào gốc để điều trị bệnh ung thư máu.
Gốc ghép tế bào. Việc cấy ghép tế bào gốc là một thủ tục để thay thế tủy xương bệnh với tủy xương khỏe mạnh.
Trước khi ghép tế bào gốc, bạn nhận được liều cao của hóa trị hoặc xạ trị để phá hủy tủy xương bệnh của bạn. Sau đó, bạn nhận được một truyền của tế bào gốc tạo máu mà giúp đỡ để xây dựng lại tủy xương của bạn.
Bạn có thể nhận tế bào gốc từ một nhà tài trợ, hoặc trong một số trường hợp, bạn có thể sử dụng các tế bào gốc của chính bạn. Việc cấy ghép tế bào gốc là rất tương tự như một cấy ghép tủy xương.

Chủ Nhật, 1 tháng 3, 2015

các phương pháp điều trị bệnh ung thư máu hiện nay

Bệnh ung thư máu là bệnh lý ác tính, gây cho bệnh nhân nhiều đau đớn, và hiện nay người ta đã tìm ra các phương pháp điều trị, nhưng tùy vào giai đoạn bệnh:
CLL có thể dẫn đến một số lượng tế bào máu trắng cao có thể duy trì ổn định trong nhiều năm và không cần điều trị. Thông thường, tuy nhiên, phương pháp điều trị ung thư máu nhẹ được yêu cầu để giữ cho tổng số trong một phạm vi quản lý được. Trong trường hợp hiếm hoi, phương pháp điều trị tích cực hơn là cần thiết cho sự thay đổi trong các tế bào máu trắng hoặc để điều trị các biến chứng như thiếu máu.
Các bác sĩ thường điều trị CML với một lớp thuốc được gọi là chất ức chế kinase tyrosine. Lớp này cũng được gọi là liệu pháp nhắm mục tiêu phân tử và công trình bằng cách can thiệp với khả năng overstimulate sản xuất các loại khác nhau của các tế bào máu của các tế bào bất bình thường '. Sau khi điều trị, nhiều người bị bệnh bạch cầu không có dấu hiệu của bệnh bạch cầu (còn gọi là thuyên giảm) cho khoảng thời gian ngắn, và một số đi vào thuyên giảm dài hạn trong đó các tế bào bất thường không còn được tìm thấy trong máu của họ.

Số lượng bạch cầu và sức khỏe tổng thể phải được theo dõi, nhưng bệnh thường có thể tiếp tục với các hoạt động bình thường trong quá trình điều trị.
Phương pháp điều trị tích cực hơn được sử dụng để cố gắng để có được các bệnh bạch cầu cấp tính thuyên giảm - giai đoạn mà mức bình thường của các tế bào máu được phục hồi. Một sự kết hợp của các loại thuốc hóa trị liệu khác nhau được sử dụng cho việc này.
Trong quá trình điều trị bệnh ung thư máu, tuy nhiên, mức độ của một số thành phần của máu có thể rơi, gây thiếu máu (thiếu hồng huyết cầu) hoặc tăng nguy cơ nhiễm trùng. Nếu số lượng các tế bào máu đỏ hoặc tiểu cầu xuống quá thấp, truyền máu có thể là cần thiết. Những người bị bệnh bạch cầu cấp tính có thể cần phải dùng kháng sinh để chống nhiễm trùng. Tác dụng phụ của hóa trị bao gồm buồn nôn, ói mửa, và rụng tóc.
Cấy ghép tủy xương là phương thuốc duy nhất cho CML, nhưng nó hiếm khi được sử dụng ngày hôm nay vì thành công với khả năng của các chất ức chế tyrosine kinase để hoạt động trên các nhiễm sắc thể Philadelphia để tạo ra một sự thuyên giảm. Cấy ghép tủy xương thường được sử dụng cho AML và ALL khi hóa trị một mình có một cơ hội thấp dẫn đến một chữa bệnh. Điều trị này phụ thuộc vào một kết hợp chính xác giữa tủy xương của người hiến và tủy xương của người tiếp nhận nó. Nếu không, cơ thể sẽ nhận ra các tế bào cấy ghép là "nước ngoài" và từ chối họ.

Nguồn: http://blog.bang.vn/55436/dieu-tri-ung-thu-mau-theo-nhung-cach-khac-nhau/

Tiền sử gia đình mắc ung thư máu có liên quan gì không

Nguyên nhân bệnh bạch cầu: Đối với hầu hết những người bị bệnh bạch cầu, không có cách nào để xác định nguyên nhân bệnh ung thư máu gây ra nó. Trong một số trường hợp, tuy nhiên, các yếu tố nguy cơ cụ thể có thể được xác định:
hóa trị hoặc xạ trị trước: tiếp xúc với liều cao của bức xạ hoặc benzen (có trong xăng không pha chì, khói thuốc lá, các cơ sở sản xuất hóa chất)